Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

[Xã hội-Báo Tin tức] - Thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung ương 'về nông nghiệp, nông dân, nông thôn'

Nhân dịp tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội có bài viết: "Đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung ương “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

Nhân dịp tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội có bài viết: "Đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung ương “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:

“Nghị quyết Trung ương 7 khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” được ban hành ngày 5/8/2008. Đến nay, sau tròn 5 năm Nghị quyết đi vào thực tiễn cuộc sống, Trung ương quyết định sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện để xác định đúng phương hướng, giải pháp tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Phát huy sức lan tỏa của Nghị quyết, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiệu quả, phát triển toàn diện, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân một cách vững chắc vừa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và thiết yếu trước mắt, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Bước tiến mới về nhận thức và hành động


Nghị quyết Trung ương là bước tiến mới trong kế thừa tư duy và đường lối đổi mới thể chế kinh tế mở đầu từ Đại hội VI, là lần đầu tiên Đảng ta đề ra một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, cơ bản cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và giai cấp nông dân nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn khẳng định tầm vóc to lớn và hệ trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái.

Mốc son chính thức khởi đầu thời kỳ đổi mới được xác định là Đại hội VI của Đảng. Trước đó, những bước đi đầu tiên trong cải tiến cơ chế quản lý đã khởi nguồn từ nông nghiệp và nông dân, tạo tiền đề ra đời Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, về thay đổi cách chỉ đạo, tổ chức sản xuất, quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đã đem lại niềm phấn khởi, khí thế mới và bước đầu giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn.

Trên cơ sở thành công của cơ chế khoán 100 (khoán đến nhóm và người lao động), ngày 15/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, trong đó xác định rõ vai trò của kinh tế hộ, coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất…

Tác dụng của cơ chế khoán 10 cùng với những thành tựu về thủy lợi, cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng năng suất, mở rộng diện tích đất canh tác ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đưa nền nông nghiệp nước ta sang trang sử mới, đã khơi dậy sức mạnh dời non lấp biển của hàng triệu hộ gia đình, hàng chục triệu nông dân - lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng, đóng góp vô cùng to lớn vào thành công của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước trước đây và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay…

Nghị quyết Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh… Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà (thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các điền chủ và nông gia ngày 14/4/1946).

Nhắc lại những điều nêu trên để càng thấy rõ hơn rằng: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã có những bước chuyển biến lớn từ hơn 30 năm qua và vẫn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hàng trăm năm tới.

Trên cơ sở nhìn lại hơn 20 năm đổi mới và phân tích thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến 2008, Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) đã tập trung trí tuệ, thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, dân chủ và nhất trí thông qua Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Nghị quyết đã thể hiện tinh thần làm việc nghiêm túc, trách nhiệm và phương pháp luận khoa học, thực tiễn, toàn diện của Trung ương thông qua việc nêu rõ: Về thực trạng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn với năm thành tựu và năm yếu kém, khuyết điểm; về quan điểm, mục tiêu, giải pháp với bốn quan điểm, ba mục tiêu tổng quát, sáu mục tiêu cụ thể và tám nhóm chủ trương, giải pháp cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt.

Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và việc tổ chức triển khai trong 5 năm vừa qua là một phần tài sản mới bổ sung vào kho tàng lý luận và thực tiễn của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, nét đặc sắc là sự hòa quyện mật thiết, sự tương tác mạnh mẽ giữa lý luận và văn kiện của Đảng với phong trào của quần chúng.

Thực tế cho thấy rõ, Nghị quyết đã được nông dân cả nước phấn khởi đón nhận, tạo nên một phong trào sôi nổi, nhất là phong trào xây dựng nông thôn mới trên cả nước và phong trào đó đã làm cho Đảng, Nhà nước thấy rõ hơn nhiều điều cả về chủ trương, chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện công cuộc phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, trong đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong thời gian 5 năm qua, sự ra đời của Nghị quyết đã thúc đẩy mạnh mẽ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành trụ đỡ quan trọng cho nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định của đất nước ta trong điều kiện khó khăn do khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu.

Thực tiễn cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trong thế giới tư bản đã phát lộ những trọng bệnh, như khủng hoảng nợ công, suy giảm niềm tin, gia tăng nạn thất nghiệp và sự bất an về chính trị, xã hội…, dẫn đến việc nhiều nước quay lại với các biện pháp bảo hộ, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và xuất nhập khẩu của những nước đang phát triển, trong đó có nước ta.

Tuy nhiên, may mắn là Việt Nam có nền nông nghiệp khá vững chắc, bước đầu được công nghiệp hóa, phát huy được vai trò trụ đỡ cho nền kinh tế, nhất là trong tình huống khó khăn chung của kinh tế thế giới. Nghị quyết của Trung ương không những có tầm chiến lược, mà còn kịp thời góp phần ứng phó thành công với những tác động tiêu cực của biến động kinh tế toàn cầu.

Mặc dù mới qua 5 năm triển khai, nhưng với sự đồng tâm nhất trí cao của toàn Đảng, toàn dân, sự quyết liệt chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở, việc thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được những bước tiến lớn, những kết quả quan trọng. Sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ và toàn diện, mặc dù dân số tăng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm, nhưng Việt Nam vẫn bảo đảm được an ninh lương thực và xuất khẩu gạo ngày càng tăng, vươn lên vị trí hàng đầu thế giới, bên cạnh đó là một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thị trường quốc tế như cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản...

Nông nghiệp tăng trưởng đáng kể cả về năng suất, sản lượng và giá trị, nông sản và sản phẩm chế biến từ nông sản xuất khẩu tăng từ 12 lên 16 mặt hàng, có thị trường tiêu thụ tại 160 nước và vùng lãnh thổ, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 115 tỷ USD (năm 2013 đạt 27,5 tỷ USD), tăng bình quân 15,2%/năm…

Từ đầu năm 2013 đến nay, mặc dù gặp nhiều khó khăn gay gắt, nhưng toàn ngành nông nghiệp vẫn duy trì được sự tăng trưởng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống dân cư nông thôn. Kết quả đó vừa là thành tựu của công việc thường xuyên, vừa có sự đóng góp quan trọng của việc tiếp tục triển khai Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Việc thực hiện toàn diện các nội dung trong nghị quyết còn đem lại những bước tiến trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân. Khoa học, công nghệ, cơ giới hóa nông nghiệp được áp dụng ngày càng rộng rãi đã góp phần tăng năng suất lao động, tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tổng năng lực tưới của hệ thống thủy lợi tăng 70.000 ha; đã mở mới, nâng cấp hàng chục ngàn km đường giao thông nông thôn, 98,3% số xã trong cả nước đã có đường ô tô về đến trung tâm xã; số xã được sử dụng điện đạt 99,89%, số hộ được sử dụng điện lưới đạt 97,3%; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin về cơ bản đã phát triển đến các xã vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh, hộ nghèo nông thôn còn 12,6%; tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 82%. Mạng lưới trường, lớp học ở vùng nông thôn tiếp tục phát triển. Hệ thống các trạm y tế trên cả nước cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, 99,51% số xã có trạm y tế, trên 86% số thôn, bản có nhân viên y tế. Xây dựng nông thôn mới, đời sống văn hóa ở nông thôn đang trở thành phong trào mạnh mẽ và thiết thực trên khắp cả nước, đến hết năm 2013, bình quân một xã đạt được 7,87 tiêu chí, nhiều mô hình nông thôn mới được phát triển, mở rộng trên các vùng của đất nước.

Điều hết sức quan trọng là Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” gắn bó mật thiết với “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” (cũng là văn kiện hoàn chỉnh về các quan điểm, chủ trương, mục tiêu và giải pháp để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, lần đầu tiên được thông qua và nhất trí ban hành tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa X). Việc thực hiện hai nghị quyết này tạo nên sức mạnh cộng hưởng, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển vững chắc giữa các ngành thủy sản, công nghiệp, hàng hải và dịch vụ…

Tuy nhiên, việc triển khai Nghị quyết Trung ương còn chưa đồng bộ xét cả về nội dung, giải pháp và địa bàn, kết quả đạt được còn chưa được như mong muốn, vai trò chủ thể của nông dân chưa được phát huy đầy đủ, chậm tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trên thực tế. Một bộ phận cán bộ các cấp và nhân dân chưa đạt được mức nhận thức đầy đủ về những nội dung thiết yếu của nghị quyết quan trọng này.

Việc tổ chức thực hiện một số cơ chế chính sách đã ban hành chưa thật sự quyết liệt, còn lúng túng, thiếu đồng bộ, chậm ban hành văn bản hướng dẫn, hoặc do thiếu biện pháp huy động tổng thể nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực tương ứng, thiếu sự kiểm tra, giám sát và đôn đốc. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn từ phía Nhà nước tuy được tăng cao hơn, nhưng vẫn rất thấp so với yêu cầu thực tế. Phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đã đưa sản xuất nông nghiệp tới ngưỡng, khó có thể tăng trưởng bền vững nếu không có giải pháp mới.

Các chính sách về thu mua tạm trữ, tiêu thụ nông sản, nhập khẩu muối, vật tư nông nghiệp, khai thác khoáng sản, khai thác, nuôi trồng thủy hải sản, bảo hiểm nông nghiệp chưa mang lại quyền lợi tương xứng cho nông dân. Chính sách tín dụng ưu đãi tuy đã có nhưng nông dân khó tiếp cận, dẫn đến thiếu vốn sản xuất kinh doanh; chính sách về đất đai còn bất cập, việc thu hồi đất nông nghiệp, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư chưa phù hợp, dẫn đến một bộ phận nông dân mất đất sản xuất, không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn, khiếu kiện kéo dài, phức tạp. Cơ chế, chính sách và sự hỗ trợ đối với ngư dân, diêm dân và đồng bào ở vùng ven biển, hải đảo còn yếu và chưa sát thực tiễn khách quan, nhất là lĩnh vực tín dụng ngân hàng và thuế…

Thực trạng nông dân hiện nay đa số vẫn là những hộ sản xuất quy mô nhỏ. Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân tuy có bước cải thiện, nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nông dân băn khoăn, lo lắng về sự phát triển chưa vững chắc của nền kinh tế; về sự lên xuống thất thường của giá nông sản; về dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi; về ô nhiễm môi trường; về biến đổi khí hậu...

Mặt khác, nông thôn phát triển còn thiếu quy hoạch, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô và hội tụ sức mạnh để sản xuất hàng hóa có hiệu quả; mô hình quan hệ sản xuất thích hợp, mở đường cho phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn chưa đủ rõ. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, đời sống văn hóa phát triển không đều, có xu hướng bị lai tạp, môi trường nông thôn bị ô nhiễm, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế.

Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào xây dựng nông thôn mới chưa đủ mạnh. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, đang có xu hướng doãng dần khoảng cách... Chương trình xây dựng nông thôn mới thực hiện chậm, thiếu nguồn lực và thiếu cả sự chủ động, sáng tạo, nhiều khả năng không đạt mục tiêu 20% số xã đạt tiêu chí vào năm 2015.


Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội. Ảnh: TTXVN


Bám sát thực tiễn, nỗ lực và sáng tạo hơn nữa trong thực hiện nghị quyết


Về quan điểm, tư tưởng, cần quán triệt sâu sắc hơn ba nội dung sau đây:

Một là, đoàn kết, nỗ lực và sáng tạo thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược của nước ta trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đó, phải tạo được bước phát triển mới cả về nhận thức, chính sách và giải pháp ngay trong và sau đợt sơ kết này để tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững hơn trong những năm tới.

Hai là, hiện nay, nông thôn là nơi sinh sống của hơn 70% dân số nước ta, tạo nguồn việc làm cho gần 50% số lao động xã hội. Nông dân là lực lượng có truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần kiên định cách mạng, luôn trung thành với Đảng, đóng góp vô cùng to lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, ưu tiên đầu tư nhiều hơn, toàn diện hơn vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn là hoàn toàn hợp đạo lý và nhất thiết phải làm. Phát triển, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được ưu tiên thực hiện trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ba là, quá trình tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế quốc dân đòi hỏi việc tái cơ cấu nền nông nghiệp phải đạt tiến độ nhanh hơn, mạnh hơn theo hướng phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở tái cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm hàng hóa nông nghiệp là vấn đề then chốt.

Trong quá trình đó con người là nhân tố quyết định. Bởi vậy, để tiếp tục thực hiện tốt hơn Nghị quyết của Trung ương, về nguyên tắc, cần đặt lên hàng đầu việc nâng cao vị thế giai cấp nông dân nước ta, bảo đảm cho nông dân đủ năng lực và bản lĩnh của lực lượng chủ công trên mặt trận nông nghiệp và tham gia quyết định một cách công bằng, bình đẳng trong lưu thông, phân phối thành quả sản xuất nông nghiệp nói riêng và phân phối thu nhập quốc dân nói chung.

Việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân không chỉ đơn thuần là cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, mà còn là vấn đề chiến lược xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có trình độ sản xuất và quản lý ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.

Đồng thời, cần gắn chặt hơn nữa với việc thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TƯ của Bộ Chính trị “Về Xây dựng và Phát huy vai trò đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” trên cả hai khía cạnh: Phát triển đội ngũ doanh nhân - nông gia giỏi ở khu vực nông thôn và động viên, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, doanh nhân ở đô thị hướng về nông thôn, khuyến khích sử dụng, chuyển giao công nghệ cao của thế giới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đó chính là lực lượng tiên tiến của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới. Là lực lượng nguồn của giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức của nước Việt Nam trên đường phát triển.

Về các giải pháp và bước đi cụ thể. Trên cơ sở đánh giá khách quan 5 năm thực hiện nghị quyết để tiếp tục tiến tới theo nguyên tắc: Những gì đúng, có lợi cho dân, hợp lòng dân thì phát huy, những mô hình, giải pháp thành công thì nhân rộng trong từng địa phương và cả nước tùy theo sự phù hợp điều kiện thực tế ở từng địa phương, từng địa bàn. Những vấn đề gì trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu hoặc đáng lẽ có thể đạt tốt hơn thì cần rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục yếu kém, nâng cao chất lượng công tác. Những gì mà nội dung nghị quyết và cơ chế còn thiếu hoặc chưa phù hợp thì điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới. Trong đó, cần chú trọng mấy nội dung chủ yếu sau:

Một là, công tác quy hoạch, định hướng phát triển. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu. Cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển thị trường hàng hóa nông nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc này cần tiến hành từ cấp tổng thể toàn quốc tới từng tỉnh, huyện. Quy hoạch tổng thể, liên vùng, liên tỉnh phải đúng tầm, bảo đảm sự tương tác, hỗ trợ, khai thác và phát huy cao độ nguồn lực của đất nước để đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn. Trong đó:

Vùng đồng bằng coi trọng phát triển công nghệ cao; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; quy hoạch các vùng chuyên canh lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao (như vựa lúa, vựa tôm, cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa vùng Đồng bằng sông Hồng), hiện đại hóa công nghiệp bảo quản, chế biến; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các khu công nghiệp, các cụm, nhóm sản phẩm công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao gắn với các đô thị lớn để hình thành các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, có tầm cỡ khu vực, có vai trò dẫn dắt và tác động lan tỏa đến sự phát triển các vùng khác.

Vùng trung du, miền núi phát triển mạnh sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi đại gia súc, tạo thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, trước hết là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu… Nông dân sẽ làm giàu từ rừng, đất rừng, bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng, khai thác hiệu quả đất rừng trong điều kiện tổ chức sản xuất lớn.

Vùng biển, ven biển và hải đảo đặc biệt chú trọng phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, chế biến thủy sản chất lượng cao, du lịch sinh thái…

Phát triển nhanh đô thị hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển để ngư dân đẩy mạnh đánh bắt hải sản xa bờ với ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và chế biến sản phẩm tại các cơ sở công nghiệp hiện đại. Kinh tế biển phải bảo đảm sự gắn kết với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao, như dịch vụ xuất nhập khẩu, du lịch, thủy hải sản, dịch vụ dầu khí, vận tải, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…

Nội dung then chốt trong công tác quy hoạch là chất lượng quy hoạch sử dụng đất - tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Trên cơ sở quy hoạch, xác định cụ thể phương thức sử dụng phù hợp thực tế và tín hiệu thị trường, đem lại giá trị cao đối với từng loại đất, như: đất (bao gồm cả mặt nước nuôi trồng thủy, hải sản) tại các vùng chuyên canh tuy có thể sử dụng linh hoạt để đạt giá trị tối đa theo tín hiệu thị trường, nhưng phải quy hoạch theo quy mô lớn, lâu dài; duy trì quỹ đất trồng lúa (có thể sử dụng linh hoạt trong sản xuất, nhưng không làm mất đi những điều kiện cơ bản để trồng lúa về lâu dài); đất giáp ranh đô thị thì quy hoạch sử dụng quy mô nhỏ, ngắn hạn tương ứng với xu hướng đô thị hóa và thông thường để trồng rau, hoa quả, cây cảnh, một số loại hoa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản… Căn cứ quy hoạch sử dụng đất, xác định nhu cầu lao động tương ứng và xây dựng quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực để cơ cấu lại lao động trong nông nghiệp và nông thôn.

Có thể nói, phát triển giáo dục, đào tạo là nhiệm vụ then chốt trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương. Cần có chiến lược thực hiện nhiệm vụ này nhằm mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng lao động nông nghiệp để đạt con số bình quân mỗi lao động nông nghiệp làm ra lương thực, thực phẩm nuôi vài ba chục người như ở những nước phát triển và chuyển dịch lao động ở nông thôn (đã được đào tạo, có tay nghề) sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nhất là các ngành dịch vụ cao cấp. Đồng thời, khuyến khích phát triển công nghiệp, dịch vụ sử dụng nhiều lao động và nguyên vật liệu tại chỗ ở nông thôn.

Hai là, đổi mới tổ chức sản xuất và lưu thông hàng hóa. Nông nghiệp phải được tổ chức sản xuất hiện đại, tiên tiến, khoa học, liên kết, hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh, tăng sản lượng và giá trị hàng hóa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu để thu nhập và đời sống nông dân ngày một cao hơn. Đổi mới cơ bản phương thức tổ chức kinh doanh nông sản, trước hết là kinh doanh lúa gạo, cần tổ chức tốt các sàn giao dịch nông sản hàng hóa kết hợp với quá trình xây dựng thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam.

Bảo đảm hợp tác chặt chẽ và phân phối lợi ích hợp lý trong suốt quá trình từ cung cấp giống, tổ chức sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, đóng gói tiêu thụ trong nước và xuất khẩu (trong đó có các công ty cổ phần mà nông dân tham gia cổ đông), trên cơ sở đó mới khắc phục được điệp khúc “được mùa, rớt giá” và bảo đảm được mùa, ổn định giá.

Ba là, đẩy nhanh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ hàng hóa; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra và chủ động được nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Phương thức tổ chức sản xuất mới, tiên tiến phải được quán triệt sâu sắc trong nông nghiệp và tất cả các ngành, các tổ chức liên quan (như các viện nghiên cứu khoa học, giống cây trồng, vật nuôi) và tổ chức thực hiện theo những phương thức, quy trình phù hợp, hiệu quả cao đối với từng ngành, từng loại sản phẩm nông nghiệp tại từng khu vực, địa bàn.

Bốn là, phát huy vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là trong quy hoạch, xây dựng, ban hành chủ trương, chính sách, cơ chế, và tổ chức thực hiện sáng tạo, tạo nên bước đột phá mới. Nông nghiệp có thể ví như trụ đỡ của nền kinh tế nước ta, nhưng việc làm ra sản phẩm lại hết sức khó khăn và thường có giá trị thấp, lại chịu nhiều rủi ro.

Bởi vậy, trước hết, cần khẳng định tư tưởng chủ đạo về chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn là hỗ trợ, bao gồm các phương thức hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp qua đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, kinh tế - xã hội, các cách thức hỗ trợ trước và sau sản xuất, hỗ trợ nhanh khi bị rủi ro (thông qua hoạt động bảo hiểm và tài trợ). Mặt khác, Nhà nước tổ chức, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghệ phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ cao cấp ở nông thôn, như mạng lưới ngân hàng, bảo hiểm. Có chính sách đặc thù khuyến khích cho vùng trồng lúa và người trồng lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia...

Đặc biệt là đổi mới cơ chế chính sách, huy động các nguồn lực đa dạng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động nhiều hơn các nguồn vốn trong nước và nước ngoài (như ODA, FDI…) đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn để tạo sự đồng bộ giữa chủ trương, chính sách với nguồn lực tài chính và công nghệ từ các nước tiên tiến. Đó là điều kiện hết sức quan trọng cho bước tiến mới trong thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Ngay sau đợt sơ kết này, các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp ủy, chính quyền tổng rà soát lại các chương trình, kế hoạch, đề án để tập trung chỉ đạo, sớm hoàn thành; những nội dung chưa hợp lý cần điều chỉnh ngay. Đồng thời thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, sơ kết, tổng kết để nhân rộng các mô hình làm ăn hiệu quả; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, đặc biệt là về cơ chế chính sách, tạo động lực cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta không ngừng phát triển.

Năm là, trong xây dựng nông thôn mới, ưu tiên nguồn lực phát triển sản xuất, sớm đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi và cần chú ý nhiều hơn đến phát triển hạ tầng xã hội: Trường học, trạm xá, nhà văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển toàn diện và bền vững nông thôn Việt Nam. Trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng này, các tiêu chí về nông thôn mới không áp đặt một cách xơ cứng, máy móc, mà cần phù hợp thực tiễn để đạt được những kết quả thiết thực sớm nhất trong từng địa phương. Cần rất coi trọng việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội, kiên quyết phòng, chống các tệ nạn, giữ vững sự bình yên, hạnh phúc trong cuộc sống gia đình và văn hóa cộng đồng ở nông thôn.

Mặt khác, cần thấy rõ rằng, quá trình tích tụ ruộng đất sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, cơ giới hóa nông nghiệp tăng nhanh, sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển ngày càng cao với quy mô lớn, có phương thức sản xuất hiện đại, vùng sản xuất lớn, cho nên cần coi trọng phát hiện, nhân rộng các mô hình tốt về hợp tác, liên kết trong đầu tư, sản xuất nông, lâm nghiệp và khai thác hải sản trên biển. Đó là xu thế phát triển khách quan trong thời gian tới, vấn đề đặt ra là chúng ta tác động định hướng hiện thực hóa xu thế đó thế nào cho vững chắc để sớm đạt được hiệu quả cao nhất.

Để vận động quần chúng hưởng ứng làm tốt những công việc này, các cấp ủy Đảng, chính quyền cần tạo điều kiện phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể khác trong việc nâng cao quyền dân chủ của nông dân, của các chủ trang trại, các doanh nghiệp, doanh nhân, đặc biệt là quyền tham gia xây dựng các nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước, trọng tâm là các chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân và tăng cường hợp tác, liên kết với các cơ sở nghiên cứu, các nhà khoa học, các doanh nghiệp hướng về nông nghiệp, nông thôn.

Những năm qua và nhất là mấy tháng gần đây, nhiều cơ quan báo chí đã có những cố gắng rất đáng hoan nghênh trong thông tin, tuyên truyền về đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đó là những việc tốt cần phát huy, bởi vì thông tin trên báo chí là căn cứ để các cấp lãnh đạo và bạn đọc, nhất là nông dân tham khảo để thực hiện và triển khai tốt hơn nghị quyết của Đảng trong thời gian tới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bức thư trích dẫn ở phần đầu bài này, đã nhấn mạnh: Có gì sung sướng bằng được góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển nông nghiệp - nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tôi nghĩ rằng, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức và tư tưởng của Người trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

TTXVN/ Tin tức

[Xã hội-Tuổi Trẻ] - Chủ tịch nước đến Osaka thúc đẩy hợp tác kinh tế

TTO - Sáng nay 19-3, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao đến Osaka -trung tâm công nghiệp của Nhật Bản - để tìm giải pháp thúc đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt - Nhật.


Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam ra đón Chủ tịch nước tại sân bay Kansai (Osaka)


Chủ tịch nước cho biết đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đi Osaka để trao đổi và thúc đẩy quan hệ giữa các địa phương hai nước, lắng nghe và đối thoại với các doanh nghiệp vùng Kansai để cùng tìm ra các giải pháp thúc đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt - Nhật.

Tại Osaka, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự tọa đàm với các lãnh đạo kinh tế vùng Kansai, dự Diễn đàn doanh nghiệp, gặp gỡ lãnh đạo Hội Hữu nghị Nhật - Việt Kansai, gặp các nhà lãnh đạo địa phương…

Trước đó, nhà vua và hoàng hậu Nhật Bản đã đến chào tạm biệt Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà khách quốc gia (Tokyo). Phát biểu trong lễ tiễn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ sự xúc động và vinh hạnh được nhà vua và hoàng hậu luôn dành cho sự quan tâm sâu sắc và thân tình trong suốt thời gian thăm Nhật Bản.

Chủ tịch nước nói: “Trong chuyến thăm Nhật Bản lần này, tôi và Ngài Thủ tướng Shinzo Abe đã có cuộc hội đàm rất thành công và đạt được nhất trí cao về các phương hướng lớn cũng như các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục tăng cường và củng cố quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Tôi cũng đã có nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, các tổ chức, doanh nghiệp, người dân quý quốc. Thăm tỉnh Ibaraki, tôi thực sự ấn tượng trước hình ảnh nông thôn Nhật Bản hiện đại với một quy trình trồng trọt và sản xuất nông nghiệp rất tiên tiến”.

Chủ tịch nước khẳng định cùng với việc thực hiện mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, hiện nay Việt Nam đang nỗ lực phát triển, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Sự hỗ trợ về khoa học công nghệ, kinh nghiệm phát triển nông thôn của Nhật Bản chắc chắn sẽ là nội dung hợp tác hiệu quả và thiết thực đối với Việt Nam trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản, nâng cao đời sống người dân.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội kiến nhà vua Nhật Bản


Nhà vua Akihito và hoàng hậu Nhật Bản đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân đến dự quốc yến

V.V.THÀNH (từ Osaka)


[Xã hội-Chinhphu.vn] - Chuẩn bị chu đáo việc tổ chức Đại lễ Vesak 2014

(Chinhphu.vn) – Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc - Vesak 2014 là sự kiện quan trọng, do vậy các bộ, ngành, địa phương cần phải chuẩn bị thật chu đáo, bảo đảm tổ chức thành công Đại lễ.


Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp chuẩn bị tổ chức Đại lễ Vesak 2014. Ảnh VGP/Lê Sơn

Chiều ngày 19/3, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp về công tác chuẩn bị cho Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc tại Việt Nam 2014.

Sau khi nghe đơn vị liên quan báo cáo tình hình chuẩn bị công tác tổ chức sự kiện này, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao sự chủ động, tích cực trong phối hợp tổ chức thực hiện Đại lễ của các bộ, ngành, địa phương nhằm bảo đảm cho thành công của Đại lễ.

Phó Thủ tướng nêu rõ đây là sự kiện văn hóa - tôn giáo của Liên Hợp Quốc được Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức nên các bộ, ngành, địa phương phải chủ động phối hợp các công việc liên quan để Đại lễ Vesak 2014 thành công tốt đẹp.

Phó Thủ tướng yêu cầu từng bộ, ngành, địa phương, nhà tài trợ phải xem xét, xây dựng kế hoạch cụ thể, sâu sát, chủ động trong toàn bộ công tác tổ chức, hậu cần, y tế, an ninh trật tự, an toàn giao thông, đồng thời biểu thị lòng hiếu khách của người dân Việt Nam đối với bạn bè quốc tế về dự Đại lễ.

Từ kinh nghiệm tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008, các bộ, ngành, địa phương, nhà tài trợ theo chức năng, nhiệm vụ được giao cần phối hợp tốt với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ quan có liên quan chủ động tổ chức, tham mưu, đề xuất giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Dự kiến, Đại lễ Vesak 2014 sẽ đón 1.500 đại biểu quốc tế đến từ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới cùng với khoảng 8.500 đại biểu, phật tử cả nước tại Bái Đính (Ninh Bình) trong thời gian từ ngày 8 - 10/5/2014.

Lê Sơn

[Xã hội-VOH] - Quận 4 chỉ còn hơn 1% hộ nghèo

(VOH) - Trong giai đoạn 3, toàn quận 4 có hơn 11% hộ nghèo có thu nhập bình quân từ 12 triệu đồng/người/năm trở xuống, đến cuối năm 2013, tỷ lệ này chỉ còn hơn 1% - Đó là báo cáo của Ban giảm nghèo, tăng hộ khá quận 4 tại hội nghị tổng kết chương trình “Giảm nghèo, tăng hộ khá” giai đoạn 3 (2009 - 2015) và triển khai phương hướng nhiệm vụ giai đoạn (2014 - 2015).

Để có được thành tích này là nhờ quận 4 có nhiều giải pháp kịp thời trong công tác ổn định sản xuất, giải quyết việc làm, an sinh xã hội cho người lao động nghèo. Ngoài hỗ trợ vốn vay, công tác giải quyết việc làm luôn được các cấp quan tâm thực hiện.

Trong giai đoạn 3, quận 4 đã giúp đào tạo nghề cho trên 25.000 lượt lao động và giải quyết việc làm trên 25.600 lượt người; mua và cấp bảo hiểm y tế hằng năm áp dụng đúng đối tượng theo quy định. Ngoài ra, công tác hỗ trợ giáo dục, chăm lo hộ nghèo từ các nguồn quỹ cũng được thực hiện tốt, giúp người dân tiếp cận được các chính sách mới, nâng cao ý thức giúp các hộ nghèo vươn lên trong cuộc sống, không trông chờ, ỷ lại vào các chính sách dành cho hộ nghèo.


[Xã hội-VOH] - Thêm tỉnh Bình Thuận công bố tái phát dịch cúm gia cầm

(VOH) - Theo Cục thú y, trong ngày 18/03, UBND tỉnh Bình Thuận công bố dịch cúm gia cầm trên địa bàn xã Nam Chính, huyện Đức Linh.


Ảnh minh họa - Nguồn: Baotintuc.

Địa phương đã tiêu hủy 6.800 con gà trong ổ dịch và triển khai các biện pháp chống dịch theo qui định.

Hiện nay, cả nước còn 25 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 tại 14 tỉnh, thành phố, tăng 01 so với ngày 17.3. Riêng dịch lở mồm long móng còn 2 tỉnh Quảng Trị và Sơn La có dịch chưa qua 21 ngày. Còn dịch heo tai xanh vẫn tạm được khống chế.


[Xã hội-VOV Online] - Phó Chủ tịch nước hội đàm với Thái tử kế vị Na Uy

VOV.VN- Phó Chủ tịch nước nhiệt liệt chào mừng Thái tử kế vị Haakon và Công nương Mette-Marit lần đầu tiên sang thăm Việt Nam.

Nhận lời mời của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Thái tử kế vị Na Uy Haakon và Công nương Mette-Marit đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18-21/3/2014.

Sáng 19/3 tại Phủ Chủ tịch, thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã chủ trì Lễ đón chính thức Thái tử kế vị Haakon và Công nương Mette-Marit thăm Việt Nam. Sau Lễ đón, hai bên đã tiến hành hội đàm.

Cùng dự về phía Việt Nam có Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Đại sứ Việt Nam tại Na Uy Lê Thị Tuyết Mai và các đồng chí Lãnh đạo Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Về phía Na Uy có Công nương Mette-Marit, Bộ trưởng Công Thương Mô-ni-ca Mê-lan, Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Xtô-lê Thô-xtên Ri-sa, Quốc Vụ khanh Bộ Ngoại giao Mốt-ten Hếch-lun và các quan chức cấp cao của Hoàng gia và Chính phủ Na Uy.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nhiệt liệt chào mừng Thái tử kế vị Haakon và Công nương Mette-Marit lần đầu tiên sang thăm Việt Nam. Chuyến thăm đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt tốt đẹp giữa hai nước, đặc biệt vào đúng dịp kỷ niệm 10 năm chuyến thăm Việt Nam của Nhà Vua và Hoàng hậu Na Uy năm 2004 và 200 năm Quốc khánh Na Uy (1814 - 2014).

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã chuyển lời hỏi thăm tới Nhà Vua và Hoàng hậu Na Uy, khẳng định, trong chính sách đối ngoại của mình, Việt Nam luôn coi trọng tăng cường quan hệ với các nước bạn bè truyền thống ở Bắc Âu, trong đó có Na Uy. Thái tử kế vị và Công nương Na Uy bày tỏ vui mừng lần đầu tiên được đến thăm đất nước Việt Nam tươi đẹp và mến khách, bày tỏ ấn tượng về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò ngày càng tăng của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới, khẳng định Hoàng gia và Chính phủ Na Uy luôn quan tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Hai bên bày tỏ hài lòng trước những bước phát triển tích cực trong quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Na Uy trong những năm qua, đặc biệt về chính trị-ngoại giao, kinh tế - thương mại - đầu tư, hợp tác phát triển, giáo dục - đào tạo và văn hóa; nhất trí duy trì trao đổi đoàn các cấp, tiếp tục hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương và quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc, ASEAN, ASEM. Phía Na Uy cảm ơn sự ủng hộ của Việt Nam trong việc tăng cường quan hệ với ASEAN và thúc đẩy sớm thông qua dự thảo Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác ASEAN - Na Uy.

Trên cương vị Đại sứ thúc đẩy thương mại - đầu tư của Na Uy ở nước ngoài, Thái tử kế vị Haakon khẳng định sẽ tiếp tục ủng hộ tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế giữa Na Uy với Việt Nam. Sự hiện diện của hơn 50 doanh nghiệp hàng đầu của Na Uy cùng nhiều hiệp hội doanh nghiệp và cơ quan xúc tiến thương mại, đầu tư của Na Uy trong chuyến thăm lần này thể hiện quyết tâm của Na Uy trong việc mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư với Việt Nam. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Na Uy tăng cường sự hiện diện và đầu tư, kinh doanh lâu dài tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực Na Uy có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu như hàng hải, đóng tàu, thủy điện, năng lượng tái tạo, dầu khí, nuôi trồng thủy sản...

Hai bên cũng nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với các nước Khối Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) trong năm 2014, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi đẩy mạnh hợp tác thương mại, đầu tư trong thời gian tới.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cảm ơn Na Uy đã cung cấp nguồn ODA quý báu cho Việt Nam trong nhiều năm qua, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trên cơ sở hợp tác hiệu quả giữa hai nước, phía Na Uy khẳng định sẽ tiếp tục cung cấp ODA cho Việt Nam trong thời gian tới, tập trung vào các lĩnh vực như ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên, giáo dục - đào tạo...

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Thái tử kế vị Na Uy sẽ yết kiến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, chủ trì bàn tròn doanh nghiệp Việt Nam – Na Uy về Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), thăm một số dự án do Na Uy tài trợ, các cơ sở kinh tế, văn hóa tại Huế và thành phố Hồ Chí Minh./.

N.T/VOV online


[Xã hội-Báo Phụ Nữ Online] - “Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”

PN - Nhận lời mời của Nhật hoàng Akihito, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 16 đến 19/3.


Chủ tịch Trương Tấn Sang phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản (ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Ngày 18/3, Chủ tịch Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu trước Quốc hội Nhật Bản. Bài phát biểu nhấn mạnh: toàn cầu hóa và xu thế liên kết kinh tế đa tầng mở ra cơ hội và triển vọng cho châu Á-Thái Bình Dương trở thành trung tâm quyền lực mới của thế giới trong thế kỷ XXI. Phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, trên nền tảng tri thức và công nghệ cao đang trở thành xu thế tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của thế giới. Do vậy, “đổi mới và sáng tạo để thích ứng trong một thế giới đang thay đổi” là sự lựa chọn tất yếu của mọi quốc gia, trong đó có Nhật Bản và Việt Nam.

Chủ tịch Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Trương Tấn Sang kêu gọi Nhật Bản tăng cường chuyển giao công nghệ, hỗ trợ ODA và tiếp tục lựa chọn Việt Nam như điểm đến ưu tiên trong làn sóng đầu tư mới. Chủ tịch mong muốn Nhật Bản đầu tư vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghiệp phụ trợ, công nghệ sau thu hoạch đối với những sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Cùng ngày, tại cuộc hội đàm cấp cao, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Thủ tướng Shinzo Abe ra tuyên bố chung, nâng cấp quan hệ Việt Nam-Nhật Bản thành “Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”. Trong đó, Nhật Bản tiếp tục xem Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu trong triển khai ODA.


Nhật hoàng Akihito tiếp trọng thể Chủ tịch Trương Tấn Sang (ảnh: Nguyễn Khang/ TTXVN

Trả lời phỏng vấn của Nikkei, Chủ tịch Trương Tấn Sang khẳng định, việc xây dựng nhà máy năng lượng hạt nhân của Việt Nam vẫn tiếp tục. Nhật Bản được chọn là đối tác xây dựng nhà máy năng lượng hạt nhân số hai ở Ninh Thuận dựa trên kinh nghiệm và sự an toàn trong xây dựng các nhà máy hạt nhân ở Nhật. Cơ sở hạ tầng tiếp tục là lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam, nên Chủ tịch hy vọng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư mạnh hơn vào lĩnh vực này.

Những năm gần đây, quan hệ Việt Nam và Nhật Bản phát triển nhanh chóng. Năm 2009, Việt Nam - Nhật Bản nâng quan hệ thành “Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”. Hiện nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất cả về số vốn đăng ký và vốn đã giải ngân. Kim ngạch thương mại giữa hai nước đã tăng lên năm lần trong vòng 10 năm, từ chưa đầy năm tỷ USD trong năm 2002 lên gần 25 tỷ USD trong năm 2012. Nhật Bản là nước cung cấp ODA lớn nhất, nhà đầu tư nước ngoài số một, đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Trong tháng Ba này, Chính phủ Nhật Bản cam kết cung cấp cho Việt Nam khoản ODA vốn vay trị giá 25 tỷ yen cho hai chương trình: hỗ trợ quản lý kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh và hỗ trợ ứng phó với Biến đổi khí hậu.


Chủ tịch Trương Tấn Sang gặp gỡ các doanh nghiệp Nhật Bản (ảnh: TTXVN)

Trước đó, ngày 17/3, Nhật Hoàng Akihito tiếp trọng thể Chủ tịch Trương Tấn Sang và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại hoàng cung Nhật Bản. Cùng ngày, Chủ tịch tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt-Nhật và kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản chọn Việt Nam là điểm đến tin cậy, mở rộng hơn nữa kinh doanh và đầu tư dài hạn tại Việt Nam, sớm đưa kim ngạch thương mại đạt mức 50 tỷ USD và hơn nữa trước năm 2020. Chủ tịch Trương Tấn Sang chứng kiến lễ ký bản ghi nhớ hợp tác giữa Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam và Phòng Thương mại Công nghiệp Nhật Bản.

Ngày 16/3, đến thăm tỉnh Ibaraki, “vùng đất nông nghiệp xuất sắc” của Nhật Bản, Chủ tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh mục tiêu thúc đẩy phát triển toàn diện và hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Tại đây, Chủ tịch chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với tỉnh Ibaraki.

AN KHUÊ (Theo TTXVN, Asean-investor.com, Nikkei)


Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

[Xã hội-Infonet] - Chủ tịch Hà Nội yêu cầu 2 quận Từ Liêm sớm lập bộ máy cấp phường

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo vừa gửi công văn hỏa tốc tới UBND hai quận mới thành lập Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm về việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm ngay khi chính thức hoạt động.


Hai quận Bắc - Nam Từ Liêm chính thức đi vào hoạt động từ 1/4

Ông Thảo yêu cầu Chủ tịch UBND hai quận Bắc – Nam Từ Liêm khẩn trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức, cán bộ của các phòng, ban của các phường trực thuộc theo chỉ đạo của UBND TP, ổn định tổ chức, phân công rõ trách nhiệm, bầu bổ sung đại biểu HĐND cấp quận, phường theo quy định.

Chủ tịch Hà Nội cũng yêu cầu hai quận triển khai thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, trật tự xây dựng, đất đai; chỉ đạo đảm bảo kỷ cương hành chính, kỷ luật công vụ, đảm bảo giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự của công dân, doanh nghiệp và các tổ chức.

Sở KH&ĐT, Tài chính, Kho bạc hướng dẫn hai quận tổ chức bàn giao, quản lý tài sản, tài chính theo quy định.

Ông Thảo cũng yêu cầu Công an TP, chỉ đạo các đơn vị triển khai giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo các giao dịch hành chính như hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký phương tiện, quản lý sử dụng con dấu…

Trước đó TP Hà Nội đã tổ chức ra mắt bộ máy tổ chức hai quận lâm thời Bắc Từ Liêm – Nam Từ Liêm. Hai quận này sẽ chính thức đi vào hoạt động từ 1/4.

Thành Nam


[Xã hội-Infonet] - Điện Biên chính thức có đường Võ Nguyên Giáp

HĐND tỉnh Điện Biên khóa XIII đã thống nhất cao việc đổi tên đường 7/5 thành đường Võ Nguyên Giáp.


Đường 7/5. Ảnh: dienbientv.vn

Ngày thứ hai của kỳ họp thứ 10, HĐND tỉnh Điện Biên khóa XIII (ngày 1/4), các đại biểu tiếp tục thảo luận, tham gia ý kiến vào nội dung các tờ trình, đề án, dự thảo nghị quyết của HĐND tỉnh.

Với tinh thần thẳng thắn, dân chủ, đại biểu HĐND tỉnh biểu quyết thông qua 7 nghị quyết về: Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển ngành Y tế tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030; điều chỉnh, bổ sung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh; điều chỉnh mức hỗ trợ cho bệnh nhân phong tại khu điều trị K10 Nậm Zin;

Quy định mức chi thực hiện các hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh; Quy định mức chi bồi dưỡng, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân được huy động để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh;

Quy định chi tiết định mức phân bổ, mức hỗ trợ thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ; thống nhất cao việc đổi tên đường 7/5 thành đường Võ Nguyên Giáp.

Sau 2 ngày làm việc khẩn trương với tinh thần trách nhiệm, kỳ họp thứ 10, HĐND tỉnh khóa XIII đã hoàn thành chương trình đề ra. Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Thanh Tùng đánh giá cao tinh thần làm việc của các đại biểu tại kỳ họp này.

Theo Báo Điện Biên Phủ


[Xã hội-CAND Portal] - Thời tiết ngày 2/4: Bắc Bộ có mưa rào và dông, Nam Bộ nắng nóng

Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, ngày hôm nay (2/4), các tỉnh Bắc Bộ sẽ có một ngày thời tiết dịu mát.

Ở phía Tây Bắc Bộ, ngày nắng, đêm có mưa rào và dông vài nơi, nhiệt độ dao động từ 21-31 o C, riêng khu Tây Bắc từ 32-34 o C. Ở phía Đông Bắc Bộ (bao gồm cả Thủ đô Hà Nội), trời nhiều mây, có mưa vài nơi, riêng vùng núi phía bắc có mưa rào và dông vào đêm và sáng, nhiệt độ dao động từ 20-29 o C.

Các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế, phía bắc nhiều mây, có mưa vài nơi, trưa chiều giảm mây trời nắng; phía nam mây thay đổi, đêm không mưa, ngày nắng, nhiệt độ từ 22-31 o C, riêng phía nam 31-34 o C. Các tỉnh phía Nam vẫn tiếp tục duy trì nắng nóng trên diện rộng với nền nhiệt cao.

Mức nhiệt cao nhất của Nam Trung Bộ là 35 o C, Tây Nguyên 35 o C, Nam Bộ 36 o C. Những cơn mưa rào và dông về đêm sẽ giúp không khí bớt oi bức hơn. Tuy nhiên, tại các tỉnh phía Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Tây Nguyên cần đề phòng trong cơn dông có tố lốc, mưa đá, gió giật mạnh


[Xã hội-Sohanews] - "Nghe tin Việt Nam tổ chức Asiad 18, tôi thực sự rùng mình!"

(Soha.vn) - “Mình rút lui không tổ chức Asiad 18 thì người ta sẽ khen, nếu làm họ sẽ chê. Tôi vẫn mong muốn Việt Nam nên rút”.


Đó là ý kiến thẳng thắn của PGS.TS Văn Như Cương xung quanh câu chuyện Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Asiad 18 (diễn ra vào năm 2019).


PGS Văn Như Cương mong muốn Việt Nam nên rút lui, không đăng cai Asiad 18.

PGS.TS Văn Như Cương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Những công trình Việt Nam xây dựng phục vụ cho các kỳ thể thao trước đó thực sự không hiệu quả, gây lãng phí, tốn kém. Chúng ta được cái gì khi bỏ ra nhiều tiền để các công trình ấy chết như thế? Vì vậy, nay nghe tin mình sẽ tổ chức Asiad 18 , tôi thực sự rùng mình.

Họ nói huy động kinh phí chỉ từ 150 - 300 triệu USD thôi, nhưng tôi không tin. Tôi thấy lạ khi nhìn các nước khác và nghĩ 1 tỷ đô là chắc chắn. Bạn thử nghĩ xem, trong tình hình khó khăn của nước ta như thế này, chúng ta có nên bỏ 1 tỷ USD để tổ chức đại hội thể thao hay không?

Số tiền ấy quá lớn, trong khi đó trường học thì không đủ, bệnh viện thì quá tải, chúng ta vẫn đang xóa đói giảm nghèo cho người dân… Những công trình xây dựng rồi không dùng nữa mà làm bệnh viện thì tốt quá!”.

Không đồng ý trước cách lý giải của một số ý kiến đồng tình tổ chức, vị này cho rằng, nếu nói việc tổ chức Asiad 18 khiến cho du lịch tăng, uy tín quốc tế của Việt Nam tăng, sức khỏe thanh niên được nâng cao…theo ông là cực kỳ mơ hồ và không định hướng được.

Phản đối ý kiến của một vị ĐBQH về hạn chế vấn đề kinh phí cần giám sát chặt khâu xây dựng, PGS.TS Văn Như Cương lập luận: “Tôi bỏ qua vấn đề tham nhũng. Chúng ta tổ chức Asiad 18 minh bạch, sử dụng đúng đồng tiền thì vẫn nên xem lại, đặt lại vấn đề nên hay không nên vì kinh phí quá lớn”.

Nhìn từ tình hình thực tế cuộc sống ở Việt Nam, ông cho rằng việc tổ chức là không khả thi.

“Tôi rất phấn khởi khi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng nói rằng nên đặt lại vấn đề để bàn kỹ lại việc tổ chức hay không. Nếu cần thiết, chúng ta nên trưng cầu dân ý trước khi quyết định.

Bản thân tôi vẫn rất muốn nếu xét thấy mình phải nộp phạt để rút lui được thì mình nên rút. Nếu nhà nước không có thì mình vận động các doanh nghiệp còn hơn mất 1 tỷ đô để tổ chức…rồi chẳng để làm gì. Chúng ta nên suy tính kỹ lại.

Những người bạn bè của tôi đều ủng hộ ý kiến nên rút. Mình tổ chức làm gì cho dân khổ mà chẳng được gì cả. Mình rút thì được họ khen, nếu tổ chức thì họ lại chê”, ông khẳng định.


Nhiều người cho rằng việc tổ chức Asiad 18 sẽ "ngốn" không dưới 1 tỷ USD.

Thậm chí, PGS.TS Văn Như Cương cho rằng, việc Việt Nam không đăng cai tổ chức Asiad 18 không làm mất uy tín mà là tăng uy tín hơn bởi như Hàn Quốc, Singapo đã rút lui tổ chức Asiad năm 1970, 1974 cũng không ảnh hưởng gì.

Ông tái khẳng định: “Mình phải rút kinh nghiệm từ các nước khác. Hy Lạp kiệt quệ kinh tế sau khi tổ chức Olympic mùa hè 2004, Trung Quốc xây dựng sân vận động tổ chim, công trình của thành phố Sochi của Nga được đầu tư hơn 51 tỷ giờ là thành phố ma…nhưng đâu có ai khen?

Tôi nghĩ, mình thà bị phạt 1 triệu đô còn hơn là mất 1 tỷ đô để đăng cai tổ chức Asiad 18. Việc rút là nên và muộn còn hơn không. Số tiền ấy chúng ta có thể làm việc khác tốt hơn ví dụ như là bắc cầu qua suối để giáo viên, học sinh không phải chui vào túi ni lông đến trường, giúp các em học sinh vùng cao bữa cơm có thịt hay phát sách giáo khoa miễn phí ở miền núi…”.


[Xã hội-Lao Động] - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Tôi nhận hoàn thành nhiệm vụ mà vẫn còn e ngại”

Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ ngày 1.4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu phải kiểm tra, khảo sát lại việc đánh giá, xếp loại cán bộ công chức vừa qua vì sao không được dư luận đồng tình. “Nếu đánh giá kiên định theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đức tốt ai cũng giống nhau. Nhưng quan trọng là cán bộ, công chức đó làm được gì, chưa làm được gì thì cần phải đúng, nói sát” - Thủ tướng nhận định.


Thủ tướng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 ngày 1.4.

Quyết liệt không tăng biên chế từ nay đến 2016

Phát biểu tại phiên họp về vấn đề đề án cải cách công vụ, công chức, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình nhận định về cơ bản đã được chỉ đạo có tập trung theo đề án, lộ trình từ nay đến 2015. Tuy nhiên, việc thực hiện vấp rào cản về yêu cầu “mô tả công việc, xác định vị trí, việc làm của các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp công lập”. Ông Nguyễn Thái Bình nói:" Đây là việc khó, do lần đầu tiên thực hiện ở VN. Có cảm giác vì thấy khó quá, nên một số nơi làm chậm”.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ đề nghị các thành viên Chính phủ, UBND địa phương căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của từng cơ quan để điều chỉnh cho phù hợp với nghị định mới và hướng dẫn mới. Theo ông, chỉ như vậy mới đạt được thời gian, lộ trình về đề án cải cách công vụ, công chức. Ông cũng khuyến cáo nếu không làm sớm thì không có căn cứ, cơ sở để giao biên chế tăng hay giảm và đề nghị các bộ, ngành, địa phương quyết liệt không tăng biên chế từ nay đến 2016.

Bộ trưởng than phiền: “Bộ, ngành, địa phương nào cũng xin tăng biên chế, trong lúc mô tả công việc, xác định vị trí việc làm thì ỳ ạch, rất trì trệ, chậm, không đạt tiến độ. Bộ Nội vụ đang phải chịu áp lực xã hội lớn về đánh giá cán bộ, công chức viên chức hằng năm”.

Ông thẳng thắn nói: Hệ thống văn bản để thực hiện việc đánh giá cán bộ, công chức rất đầy đủ và nếu đọc kỹ sẽ rất dễ thực hiện. Tuy nhiên, có xu hướng khoán trắng cho cơ quan tổ chức cán bộ ở trên là ban tổ chức cấp ủy và nội vụ. Do hệ thống văn bản nằm rải rác, nên Bộ Nội vụ đã có tờ trình xin ý kiến Chính phủ cho bộ chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức T.Ư xây dựng nghị định đánh giá nhận xét, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức, được Thủ tướng đồng ý và văn bản đang được dự thảo.

Thủ tướng biết tin con số nào?

Sau khi Bộ Nội vụ trình bày, Thủ tướng đặt câu hỏi: Vì sao dư luận xã hội không đồng tình với kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ công chức vừa qua, khi tỉ lệ không hoàn thành nhiệm vụ mà địa phương báo cáo lên chỉ là 0,6%. Con số của các bộ đưa ra thậm chí còn thấp hơn, chỉ 0,5%. Điều này khiến khi ra trả lời chất vấn quốc hội, Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình thậm chí e ngại, không dám... đề cập con số.

“Các đồng chí xem, nếu Thủ tướng ngồi đây thì tin vào con số nào. Các bộ trưởng báo lên có 0,5% không hoàn thành nhiệm vụ, thì tôi nói làm sao khác đi. Nhưng dư luận chung không đồng tình kết quả đó. Có ý kiến nói 20%, có nơi nói 30%” – Thủ tướng đặt vấn đề.

Thủ tướng yêu cầu cần thanh tra, kiểm tra, khảo sát việc đánh giá có đúng trình tự, quy định không? Do tiêu chí đưa ra chưa sát, hay do bên dưới làm chưa nghiêm túc? “Có 4 mức: Xuất sắc , tốt, hoàn thành, không hoàn thành. Tôi chỉ nhận mức hoàn thành thôi, gần mức chót. Chi bộ cho là xuất sắc, nhưng tôi kiên định chỉ nhận ở mức hoàn thành. Tôi cũng bày tỏ với Bộ Chính trị rằng nhận hoàn thành còn thấy có cái chưa được. Tôi xin nói nghiêm túc thế. Đứng về chức năng nhiệm vụ mình nhận, nói hoàn thành là còn e ngại” - Thủ tướng bày tỏ.

Thủ tướng nhất trí về việc Bộ Nội vụ phối hợp với Ban Tổ chức T.Ư có nghị định hướng dẫn cụ thể về việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức. Nhưng quan trọng phải là xác định rõ chức danh công chức, xác định rõ việc làm cụ thể là gì. Còn cái không rõ thì đánh giá chung chung.